Loét Dạ Dày Tá Tràng

Loét dạ dày tá tràng là sự mất chất của niêm mạc dạ dày tá tràng. Loét dạ dày tá tràng là một bệnh khá phổ biến, với những đợt tiến triển xen kẽ với những thời kỳ ổn định mà chu kỳ thay đổi tùy từng người. Trong số những người bị loét dạ dày tá tràng thì có khoảng 70% có hội chứng Helicobacter Pylori ( khuẩn HP ). Hiện nay tỉ lệ mắc bệnh loét dạ dày tá tràng ở nam giới cao hơn nữ giới.

Nguyên Nhân Gây Bệnh:
Theo Y học Hiện Đại:

   Loét dạ dày tá tràng là kết quả của sự mất cân bằng giữa một bên là yếu tố phá hủy niêm mạc dạ dày  tá tràng và một bên là yếu tố bảo vệ niêm mạc dạ dày  tá tràng .

loét dạ dày tá tràng
loét dạ dày tá tràng

Trong đó:
− Yếu tố phá hủy niêm mạc: HCl và pepsin.
− Yếu tố bảo vệ niêm mạc: chất nhầy, HCO3.
− Hàng rào niêm mạc dạ dày.
Theo đó những nguyên nhân gây hoạt hoá yếu tố phá hủy niêm mạc dạ dày tá tràng có thể kể đến:
+ Sự căng thẳng Thần kinh do các stress tâm lý kéo dài gây nên trạng thái cường phó giao cảm mà kết quả sẽ gây tăng tiết HCl và tăng co bóp cơ trơn dạ dày.
+ Sự hiện diện của xoắn khuẩn Helicobacter Pylori (HP) sẽ hủy hoại tế bào D ở niêm mạc tá tràng (là tế bào tiết somatostatin có tác dụng ức chế tiết gastrin), qua đó sẽ gây tăng tiết HCl.
Ngược lại, những nguyên nhân làm suy giảm yếu tố bảo vệ niêm mạc dạ dày lại là:
+ Sự căng thẳng Thần kinh do các stress tâm lý kéo dài sẽ làm các tế bào nhầy ở niêm mạc dạ dày giảm bài tiết HCO3.
+ Rượu và các thuốc giảm đau chống viêm no steroid ngoài việc thông qua cơ chế tái khuyếch tán ion H + còn ức chế sự tổng hợp prostaglandin do đó đồng thời vừa làm tăng tiết HCl vừa hủy hoại tế bào niêm mạc dạ dày cũng như làm giảm sự sinh sản tế bào niêm mạc dạ dày.
+ Corticoid và các dẫn xuất của nó qua cơ chế giảm tổng hợp glucoprotein (một thành phần cơ bản của chất nhầy). Sẽ làm giảm yếu tố bảo vệ niêm mạc dạ dày.
+ Vai trò tưới máu của hệ mao mạch dạ dày tá tràng đối với sự bền vững của hàng rào niêm mạc dạ dày. Theo đó sự xơ vữa hệ mao mạch dạ dày tá tràng sẽ làm cản trở sự tưới máu niêm mạc dạ dày. Được dùng để giải thích cho cơ chế viêm dạ dày mạn tính. Cũng như giải thích lý do tại sao có nhiều ổ loét to và bất trị ở người có tuổi.
+ Sự hiện diện của xoắn khuẩn Helicobacter Pylori (HP) ở niêm mạc dạ dày tá tràng. Sẽ sản sinh ra NH3 vừa cản trở sự tổng hợp chất nhày vừa làm biến đổi cấu trúc phân tử. Chất nhầy từ dạng hình cầu sang dạng hình phiến mỏng, khiến cho lớp chất nhầy dễ bị tiêu hủy bởi pepsin. Ngoài ra chính Helicobacter Pylori (HP) còn tiết ra protease. Phospholipase, độc tố 87 KDA protein. Và kích thích tiết interleukin γ gây tổn thương trực tiếp lên tế bào niêm mạc dạ dày.
+ Yếu tố thể tạng: nhóm máu O có tần suất loét cao hơn các nhóm máu khác. Điều này có lẽ liên quan đến sự ưu tiên kết hợp giữa nhóm O và HP, sự liên quan giữa HLAB5 antigen với tần suất loét tá tràng.
+ Vai trò của thuốc lá trong việc ức chế tiết HCO3 của tuyến tụy. Gia tăng sự thoát dịch vị vào tá tràng đồng thời tạo nên các gốc tự do gây tổn hại đến niêm mạc dạ dày.

Theo Y Học Cổ Truyền:

Bệnh loét dạ dày tá tràng với biểu hiện lâm sàng là đau vùng thượng vị. Cùng với một số rối loạn tiêu hóa được xếp vào bệnh lý của tỳ vị với bệnh danh là vị quản thống mà nguyên nhân có thể là:
− Những căng thẳng tâm lý ( tình chí) kéo dài như giận dữ, uất ức. Khiến cho chức năng sơ tiết của tạng can (mộc) bị ảnh hưởng, từ đó cản trở tới chức năng giáng nạp thuỷ cốc.

loét dạ dày tá tràng
cơ chế viêm loét dạ dày tá tràng

− Những căng thẳng tâm lý kéo dài như lo nghĩ, toan tính quá mức. Cũng như việc ăn uống đói no thất thường. Sẽ tác động xấu tới chức năng kiện vận của tạng tỳ và ảnh hưởng xấu tới chức năng giáng nạp thủy cốc của vị.
Trên cơ sở đó, thời tiết lạnh hoặc thức ăn sống lạnh mà YHCT gọi là hàn tà. Sẽ là yếu tố làm khởi phát cơn đau. Trong giai đoạn đầu, chứng vị quản thống thường biểu hiện thể Khí Uất (trệ). Hoả Uất hoặc Huyết Ứ; nhưng về sau do khí suy, huyết kém mà chứng vị quản thống sẽ diễn tiến theo thể tỳ vị Hư Hàn.

CHẨN ĐOÁN:
Theo Y Học Hiện Đại:

1. Triệu chứng lâm sàng:
Viêm loét dạ dày tá tràng nói chung có các triệu chứng cơ năng và dấu hiệu lâm sàng của bệnh loét dạ dày-tá tràng thường nghèo nàn, chỉ trong những đợt tiến triển bệnh nhân mới có đau vùng thượng vị, rối loạn tiêu hóa.
a. Những cơn đau vùng thượng vị
Kéo dài từ 15 phút – 1 giờ, có thể khu trú ở bên (T) nếu là loét dạ dày hoặc bên (P) nếu là loét tá tràng. Cơn đau có thể lan ra vùng hông sườn (P) hoặc có thể chói ra sau lưng (nếu loét ở thành sau dạ dày).
Cơn đau có tính chu kỳ và trở nên đau dai dẳng liên tục nếu là loét lâu ngày hoặc loét xơ chai.
Cơn đau thường xuất hiện lúc đói, về đêm và giảm ngay sau khi uống sữa hoặc dung dịch antacid nếu là loét tá tràng; thường xuất hiện sau khi ăn hoặc ít thuyên giảm với antacid nếu là loét dạ dày.
Cơn đau có tính chất quặn thắt hoặc nóng rát, hoặc nặng nề âm ỉ.
Trong cơn đau, khám có thể phát hiện thấy vùng thượng vị đề kháng khi sờ nắn.
b. Những rối loạn tiêu hóa:
+ Táo bón: rất thường gặp.
+ Nôn mửa, buồn nôn thường xảy ra trong trường hợp loét dạ dày nhưng ít xảy ra trong loét tá tràng nếu không có biến chứng.
Bệnh nhân ăn vẫn ngon miệng nhưng có cảm giác chậm tiêu, thường là nặng, trướng bụng hoặc ợ hơi, ợ chua sau các bữa ăn.
2) Cận Lâm Sàng:
+ Là những xét nghiệm
+ XQ
+ Nội soi
3) Biến Chứng:
Thông thường trong những đợt tiến triển, mỗi đợt đau có thể kéo dài vài ngày hoặc 2 – 3 tuần lễ rồi tự nhiên hết. Nhưng cũng có khoảng 10 – 20% trường hợp thường xảy ra các biến chứng như:
– Xuất huyết tiêu hóa: chiếm khoảng 15%
– Thủng dạ dày tá tràng:chiếm khoảng 7%
– Hẹp : chiếm khoảng 2%
– Ung Thư Hóa: chiếm 90% bị loét ở bờ cong nhỏ.

THEO Y HỌC CỔ TRUYỀN:

Viêm loét dạ dày tá tràng đông y gọi là Chứng vị quản thống được chia làm 4 thể lâm sàng sau đây:
1. Khí uất (trệ):
Với triệu chứng đau thượng vị từng cơn lan ra hai bên hông sườn kèm ợ hơi, ợ chua, táo bón. Yếu tố khởi phát cơn đau thường là nóng giận, cáu gắt. Tính tình hay gắt gỏng, rìa lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng nhầy, mạch huyền hữu lực.
2. Hoả uất:
Với tính chất đau dữ dội, nóng rát vùng thượng vị, nôn mửa ra thức ăn chua đắng, hơi thở hôi, miệng đắng, lưỡi đỏ sẫm, mạch hồng sác.
3. Huyết ứ:
Đau khu trú ở vùng thượng vị cảm giác châm chích, chất lưỡi đỏ tím hoặc có điểm huyết ứ, mạch hoạt. Nặng hơn thì đi cầu phân đen hoặc nôn ra máu bầm.
4. Tỳ vị hư hàn:
Hay gặp ở loét dạ dày-tá tràng mạn tính, tái phát nhiều lần hoặc ở người già với triệu chứng đau vùng thượng vị mang tính chất âm ỉ liên tục hoặc cảm giác đầy trướng bụng sau khi ăn. Yếu tố khởi phát thường là mùa lạnh hoặc thức ăn tanh lạnh làm đau tăng. Triệu chứng đi kèm là chán ăn, buồn nôn, phân có lúc lỏng, sệt, nhầy nhớt, lưỡi nhợt bệu. Rêu lưỡi trắng dày nhớt, mạch nhu hoãn vô lực.

ĐIỀU TRỊ:
Theo Tây Y:

Nhằm mục đích:
− Làm lành ổ loét.
− Loại bỏ xoắn khuẩn Helicobacter Pylori.
− Phòng chống tái phát.
− Theo dõi và phát hiện trạng thái ung thư hóa.
Thuốc điều trị theo hướng dẫn và toa của bác sỹ để loại bỏ xoắn khuẩn HP.

Theo Y Học Cổ Truyền:

Sơ can lý khí:
Bài thuốc tiêu biểu là: Sài hồ sơ can, Tiêu dao gia uất kim. Điều hòa can tỳ, Hương cúc bồ đề nghệ với mục đích an Thần, chống co thắt cơ trơn tiêu hoá và chống tiết HCl dịch vị hoặc trung hoà acid.
Cụ thể trong chứng vị quản thống thể khí uất (trệ) ta có thể dùng bài Tiêu dao gia uất kim

Thanh hỏa, trừ uất:
Bài thuốc tiêu biểu là: Hương cúc bồ đề nghệ hoặc Hóa can tiễn hợp với Tả kim hoàn. Thanh cao ẩm với mục đích chống co thắt, chống tiết HCl. Kháng sinh kháng viêm bằng cơ chế liền thành mạch hoặc cơ chế leucotrien.
Châm cứu: châm tả những huyệt nội đình, hợp cốc, nội quan.

Hoạt huyết tiêu ứ chỉ huyết:
Với mục đích chống sung huyết và cầm máu ngoài tác dụng chống co thắt và chống tiết HCl dạ dày. Bài thuốc tiêu biểu là bài Hương cúc bồ đề nghệ. Hoặc Tiêu dao gia uất kim hoặc Tứ vật đào hồng. Tất cả gia cỏ mực, trắc bách diệp sao đen.
Châm cứu: châm tả thái xung, huyết hải, hợp cốc

Ôn trung kiện tỳ :
Bài thuốc tiêu biểu là bài Hoàng kỳ kiến trung. Với mục đích kích thích tiết dịch vị, điều hòa nhu động dạ dày ruột, cải thiện tuần hoàn niêm mạc dạ dày. Kích thích tổng hợp glucoprotein và prostaglandin E2, I2.
Châm cứu: ôn châm hoặc cứu những huyệt . Quan nguyên, khí hải, túc tam lý, thái bạch, phong long. Tỳ du, đại đô, thiếu phủ.

Lời Khuyên:

loét dạ dày tá tràng
hình dạ dày

     Chế độ ăn uống đối vơi bệnh nhân bị viêm loét dạ dày tá tràng. Cho đến nay việc thực hiện ăn uống gồm các thức ăn mềm, không gia vị, hạn chế ăn sữa và kem, hạn chế ăn hoa quả. Do đó bệnh nhân nên chánh những thức ăn nào gây đau hơn hoặc gây rối loạn tiêu hóa. Kiêng rượu và thuốc lá, cà phê, các đồ cay nóng khác.

       Với nhiều năm kinh nghiệm phòng khám chữa bệnh nam nữ khoa. Từ những bài thuốc gia truyền, các vị  thuốc nam  kết hợp cổ phương và y học hiện đại. Đã điều chế ra bài thuốc điều trị hiệu quả cho từng thể bệnh như:

     Thể có HP  với bài thuốc ” Dạ Dày HP” với các thành phần như; hoàng liêm, xuyên tâm liên, núc nác, ngũ linh chi, thục quân, hậu phác, tuyền phúc hoa, linh chi….. Đã điều trị khỏi hoàn toàn, tiêu diệt xoắn khuẩn HP. Làm lành các vết loét dạ dày tá tràng, hết các triệu chứng đầy hơi, khó tiêu…

    Có ợ hơi ợ chua với bài” Bình Vị” với các thuốc như: kim linh tử, ngô thù. Hoàng liên, thạch quyết minh, ô tặc cốt, ngọa lăng tử…..  Tác dụng trung hòa hết dịch vị thừa, hết đầy bụng ợ hơi, đau tức nóng rát vùng dạ dầy. Làm lành sẹo, kích thích tiêu hóa…

Và các bài thuốc khác được gia giảm theo từng bệnh nhân với các triệu chứng riêng từng bệnh. Hãy để lại thông tin để được các bác sỹ tư vấn hoặc liên hệ  0915180628 hay 0974070485. Phòng Khám Đông Y Sinh Long Đường Luôn đồng hành cùng bệnh nhân.

Bạn có thể xem thêm bệnh ung thư phế quản tại đây!

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *